A PROBLEM ON WATER SUPPLY AND SANITATION TRAINING IN UNIVERSITIES.
The paper presents a training status, a demand and necessary mesuares development of higher technical human resources on water and sanitation in Vietnam.
PGS, TS Trần Đức Hạ
1.Bối cảnh chung.
Trong những thập kỷ gần đây, các nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng năng lượng ngày càng gia tăng. Các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội đã tác động mạnh mẽ đến điều kiện sống và làm việc của con người không chỉ ở phạm vi nhỏ mà ngày càng lan rộng ra ở mức vùng, quốc gia hay cả cộng đồng thế giới. Tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên nước, bị đe doạ làm cạn kiệt và suy thoái, môi trường bị biến đổi theo chiều hướng xấu... Cùng với quá trình công nghiệp hoá, tốc độ đô thị hoá ở mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn thế gới ngày càng gia tăng. Các chất thải phát sinh từ các hoạt động kinh tế xã hội ngày càng nhiều, ô nhiễm môi trường có xu thế tăng lên rõ rệt. Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại.
Việt nam có số dân gần 80 triệu người, đang ở trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá Đất nước. Yêu cầu tăng trưởng kinh tế đòi hỏi sự khai thác tài nguyên và sử dụng năng lượng ở mức độ rất lớn. Nhu cầu cấp nước ngày càng gia tăng. Sự phát triển kinh tế xã hội với sự hình thành các khu đô thị, khu công nghiệp ... có xu thế tạo nên sự không ổn định sinh thái của nhiều vùng, nhiều khu vực.Vì vậy bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn nước là một yêu cầu cấp bách.
Trong lĩnh vực cấp nước, thời gian vừa qua chúng ta đã đầu tư và vay vốn chủ yếu từ các nguồn ODA là hàng trăm nghìn tỷ đồng, trong đó cho khu vực đô thị khoảng 70% và 30% khu vực nông thôn. Tuy nhiên hiện nay cũng mới có gần 70% dân số đô thị được cấp nước với tiêu chuẩn bình quân thấp, từ 60-80l/người.ngày. Còn gần 300 trong số 500 thị trấn chưa có nhà máy nước. Thực tế đối với cấp nước nông thôn còn khó khăn hơn nhiều. Sự phát triển đô thị và công nghiệp tạo nên lượng lớn chất thải vào môi trường. Nguồn nước ô nhiễm và cạn kiệt ở nhiều vùng. Chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư bị đe doạ.
Do vậy trong thời gian tới một trong những nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của Việt nam là phải cung cấp đủ nước sạch và đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường cho người dân. Chính phủ đã có các Chiến lược Quốc gia phát triển cấp nước đô thị, phát triển thoát nước đô thị, nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020. Cấp thoát nước phát triển thành lĩnh vực công nghiệp. Nhu cầu cấp nước, thoát nước, vệ sinh môi trường đô thị và nông thôn đòi hỏi một nguồn nhân lực phong phú đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng. Trong đó cán bộ khoa học kỹ thuật về cấp thoát nước và sử dụng tổng hợp nguồn nước được đào tạo từ các trường đại học sẽ là lực lượng chủ chốt.
2. Tình hình đào tạo kỹ sư về cấp thoát nước và môi trường nước ở Việt nam.
Cơ cấu đội ngũ lao động phục vụ trong lĩnh vực kỹ thuật hạ tầng đối với các nước đang phát triển theo tính toán của tổ chức lao động Quốc tế (ILO) của Liên hợp quốc là:
-Các nhà phát minh và đổi mới công nghệ chiếm 2,5%;
-Các nhà quản lý chiếm 6,5%;
-Các nhà kỹ thuật công nghệ: chiếm 9%;
-Công nhân lành nghề chiếm 22%;
-Công nhân không lành nghề và lao động giản đơn: 65%.

Hình 1. Dự báo nhu cầu đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật cho lĩnh vực cấp thoát nước và vệ sinh môi trường đô thị và nông thôn.
Như vậy tính đến năm 2010 trong khu vực cấp thoát nước và và vệ sinh môi trường đô thị chúng ta cần 80.000 công nhân và cán bộ kỹ thuật (tỷ lệ 1 nhân lực/250 người dân). Trong khu vực cấp nước và vệ sinh nông thôn chúng ta cần 148.000 công nhân và cán bộ kỹ thuật (tỷ lệ 1 nhân lực/500 người dân). Trong tổng số nhân lực cần thiết phục vụ trong lĩnh vực cấp thoát nước và vệ sinh môi trường, số người phải qua đào tạo là 91.200 người (chiếm khoảng 40%).
Theo các số liệu của Hội Cấp thoát nước Việt nam, toàn quốc hiện nay có khoảng gần 10.000 cán bộ công nhân ngành nước nhưng lực lượng này phân bố không đều, tạo thành hình nấm trong cơ cấu nhân lực. Số lượng cán bộ kỹ thuật, kỹ sư lại quá ít. Chỉ có một số công ty tư vấn, công ty xây dựng và nhà máy nước lớn có các kỹ cấp thoát nước làm việc.
Hiện nay ở Việt nam đang tồn tại các cơ sở đào tạo về cấp thoát nước và kỹ thuật môi trường sau đây:
-Đào tạo kỹ sư cấp thoát nước chủ yếu tại trường Đại học Xây dựng (từ 100 đến 150 kỹ sư hàng năm các hệ chính quy và vừa học vừa làm) tại trường Đại học kiến trúc Hà nội (từ 60 đến 80 kỹ sư các hệ) và tại một số trường đại học khác như trường Đại học Thuỷ lợi Hà nội và tại khoa Xây dựng trường Đại học Bách khoa Đại học Quốc gia thành phố Hồ chí Minh. Phần lớn đây là các trường đại học khối xây dựng cơ bản. Tổng số kỹ sư cấp thoát nước đào tạo được hàng năm khoảng 200 –300 người.
-Đào tạo kĩ sư về công nghệ môi trường và quản lý môi trường, kỹ thuật hạ tầng và lĩnh vực chuyên môn liên quan tại các trường đại học quốc lập như trường Đại học Bách khoa Hà nội, trường Đại học Xây dựng Hà nội, trường Đại học Kiến trúc Hà nội, trường Đại học Thuỷ lợi Hà nội, trường Đại học Đà nẵng, trường Đại học bách khoa Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Huế... và các trường đại học dân lập như trường Đại học Đông đô ( Hà nội), trường Đại học dân lập Hải phòng, trường Đại học Văn Lang ( thành phố Hồ Chí Minh), trường Đại học Duy Tân (Đà nẵng)... Số lượng các cơ sở đào tạo này khoảng 10 với khoảng 700 kỹ sư /năm. Các cơ sở đào tạo này chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn như Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà nẵng...
Ngoài ra, các trường đại học khối quốc lập nói trên còn đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ về cấp thoát nước, về công nghệ và quản lý môi trường. Trường đại học bách khoa Hà nội, học dân lập Đông Đô còn đào tạo cao đẳng chuyên ngành công nghệ môi trường, các trường cao đẳng xây dựng số 1 (tại Hà nội) và cao đẳng xây dựng số 2 ( tại thành phố Hồ Chí Minh) còn chuẩn bị đào tạo cao đẳng chuyên ngành cấp thoát nước.
Mặc dù các trường đại học đã hình thành lâu đời nhưng vấn đề đào tạo kỹ sư cấp thoát nước và kỹ sư môi trường cũng mới bắt đầu từ vài chục năm nay. Năm 1981, chuyên ngành kỹ thuật môi sinh bắt đầu đào tạo tại Trung tâm Nước và môi trường ( CEFINEA) trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1989, trường Đại học Bách khoa Hà nội bắt đầu đào tạo kỹ sư công nghệ môi trường. Vào cuối những năm 90, sau khi Luật Bảo vệ môi trường của Việt nam ra đời ( năm 1994), yêu cầu về bảo vệ môi trường ngày càng cấp thiết. Một loạt cơ sở đào tạo về kỹ thuật môi trường được hình thành trong các trường đại học quốc lập, dân lập và bán công.

Tuy nhiên một số lĩnh vực về kỹ thuật môi trường chuyên sâu đã được đào tạo và giảng dạy trong các trường đại học xây dựng cơ bản. Từ năm 1967, chuyên ngành cấp thoát nước và chuyên ngành thông gió, cấp nhiệt đã được đào tạo tại trường Đại học Xây dựng. Năm 1972, khoa kỹ thuật vệ sinh (sanitation) đã được thành lập tại trường Đại học Xây dựng. Cho đến nay, trường Đại này Xây dựng đã đào tạo cho đất nước 1.650 kỹ sư cấp thoát nước – môi trường nước. Hầu hết các kỹ sư này đều công tác đúng chuyên môn nhưng chủ yếu tập trung ở Hà nội, thành phố Hồ chí Minh và một số thành phố lớn khác.
Nhu cầu cán bộ kỹ thuật về môi trường ngày càng tăng. Nhiều trường đại học và các cơ sở đào tạo khác trong cả nước đang có dự kiến mở các khoá đào tạo kỹ sư công nghệ môi trường, kỹ sư cấp thoát nước...
Điều kiện giảng dạy trong các trường đại học nói chung và trong các cơ sở đào tạo kỹ sư cấp thoát nước - môi trường nói riêng đang thiếu thốn và gặp nhiều khó khăn. Hầu hết các phòng thí nghiệm chuyên ngành còn lạc hậu, không theo kịp các phòng thí nghiệm về môi trường của các nước trong khu vực. Kinh phí từ nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho các trường đại học còn hạn chế. Do có sự tài trợ thông qua chương trình hợp tác với nước ngoài, một số trường và cơ sở đào tạo đã cải tiến được điều kiện giảng dạy của mình. Tuy nhiên, sự tài trợ này còn phiến diện trong một số lĩnh vực nhỏ.
Các giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy về cấp thoát nước và kỹ thuật môi trường đã được biên soạn, phát hành nhưng chưa đồng bộ và chỉ tập trung trong một số trường lớn khu vực phía Bắc như trường Đại học Xây dựng, Đại học Bách khoa Hà nội, Đại học Kiến trúc Hà nội... Trong năm 2001 và 2002, Ngân hàng Thế giới và Hội Cấp thoát nước Việt nam đã tài trợ cho các trường Đại học như Đại học xây dựng, Đại học Kiến trúc Hà nội ... biên soạn các giáo trình chủ yếu để giảng dạy về cấp thoát nước. Các giáo trình này cũng đã được tặng cho các công ty cấp thoát nước, các trường đại học và cao đẳng khác giảng dạy về cấp thoát nước. Trường Đại học Xây dựng cũng có một số dự án liên kết đào tạo được sự sự hỗ trợ của EU, Liên bang Thuỵ sĩ ... như đổi mới chương trình giảng dạy công nghệ môi trường, biên soạn tài liệu giảng dạy trong lĩnh vực vệ sinh chi phí thấp... Các trường Đại học Thuỷ lợi, Đại học Kiến trúc Hà nội... cũng đang có những dự án về đào tạo tương tự.
Chương trình giảng dạy về cấp thoát nước và kỹ thuật môi trường đã được thường xuyên cải tiến để dần phù hợp với yêu cầu xã hội và cập nhật các tiến bộ khoa học công nghệ. Tuy nhiên, chương trình đào tạo giữa các trường không thống nhất, phần lớn được xây dựng trên quan điểm chủ quan, ít có sự thăm dò xã hội. Nhiều nội dung đào tạo về môi trường tại các trường đại học kỹ thuật công lập như trường Đại học Xây dựng, trường Đại học Kiến trúc Hà nội, trường Đại học Bách khoa Hà nội ... hơi sâu và nặng. Trong lúc đấy, chương trình đào tạo về kỹ thuật môi trường ở các trường đại học khối dân lập còn nhẹ. Hiện nay, Bộ Giáo dục và đào tạo đang cho xây dựng chương trình khung cho tất cả các khối ngành đào tạo. Khung đào tạo ngành kỹ thuật môi trường đã được thông qua. Tuy nhiên việc thống nhất chương trình đào tạo trong một khung cũng sẽ tạo nên một số bất cập, trong đó có sự hạn chế tính mềm dẻo của chương trình đào tạo này. Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đang triển khai đề án “Đào tạo môi trường trong hệ thống giáo dục quốc dân”, trong đó các trường đại học sẽ giảng dạy các kiến thức về công nghệ và quản lý môi trường phục vụ cho các hoạt động chuyên môn của kỹ sư sau này.
Như vậy, hiện nay số lượng kỹ sư về cấp thoát nước và công nghệ môi trường đào tạo trong cả nước không đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ngày càng tăng. Mặt khác các điều kiện đào tạo khó khăn đã làm cho chất lượng kỹ sư hạn chế. Đây là những thách thức đôí với các trường đại học đào tạo kỹ sư cấp thoát nước và môi trường ở Việt nam .
3. Cải tiến đào tạo kỹ sư cấp thoát nước và môi trường trong các trường đại học ở Việt nam.
Nhu cầu cán bộ công tác trong lĩnh vực cấp thoát nước và bảo vệ môi trường nước ở Việt nam ngày càng tăng. Dự báo sơ bộ đến năm 2005, với 61 tỉnh thành trên cả nước, số lượng kỹ sư môi trường cần thiết là 8.500 người, trong đó kỹ sư cấp thoát nước là 4.000 người [ 2 ]. Đây là một thách thức rất lớn, đòi hỏi có một kế hoạch cụ thể đồng bộ để phát triển nguồn nhân lực này. Mục tiêu chung để đào tạo kỹ sư cấp thoát nước và môi trường ở Việt nam là:
-Đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có khả năng giải quyết các vấn đề cấp nước, xử lý hoặc khống chế , kiểm soát ô nhiễm môi trường nước hoặc đánh giá chất lượng môi trường, thẩm định các dự án phát triển kinh tế – xã hội...
-Xây dựng một lực lượng các nhà khoa học có khả năng thực hiện các nhiệm vụ cung cấp nước, quản lý, theo dõi hoặc giám sát chất lượng môi trường nước một cách thường xuyên và liên tục.
-Hình thành một đội ngũ cán bộ có khả năng tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội cùng với việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Đào tạo kĩ sư cấp thoát nước - môi trường và nghiên cứu trong lĩnh vực kỹ thuật môi trường cần phù hợp với khái niệm phát triển bền vững. Mặt khác, ở bất kỳ trình độ chuyên môn nào , người kỹ sư cũng có thể tham gia vào việc bảo vệ môi trường. Việc đào tạo phải nhất thể hoá với các vấn đề thực tiễn của môi trường đặt ra. Sau hội nghị thượng đỉnh Rio, nhiều nước đã đổi mới chương trình đào tạo kĩ sư cho phù hợp với yêu cầu của phát triển bền vững. Mặc dù mới đào tạo kĩ sư về môi trường cách đây khoảng vài chục năm, nhưng Việt nam đang xem xét, cải tiến lại chương trình đào tạo này trong các trường đại học cũng như trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Để nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư cấp thoát nước và môi trườngở Việt nam và hoà nhập với giáo dục, đào tạo chuyên gia cấp nước và môi trường của thế giới, cần phải đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo. Sự đổi mới đó chủ yếu tập trung vào sự thay đổi từ quan điểm kỹ thuật cấp nước và môi trường truyền thống , được hiểu chỉ là một lĩnh vực công nghệ chỉ nhằm cung cấp và xử lý nước, huỷ bỏ chất thải, xử lý ô nhiễm và xây dựng, vận hành các công trình để thực hiện các công nghệ này, chuyển sang quan điểm nghiên cứu và giải quyết các vấn đề môi trường hiện đại, có tính tổng hợp liên ngành nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững như kết luận của Hội nghị về “ Giáo dục và đào tạo vì sự phát triển bền vững” tổ chức tại Pari từ 25 đến 26 tháng 9 năm 1997 [ 5 ].
Để nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư môi trường không những cần phải cải tiến chương trình đào tạo mà còn phải cải tiến và hoàn thiện nội dung từng môn học để làm sao đào tạo được kỹ sư môi trường vừa đạt trình độ kiến thức hiện đại vừa có năng lực giải quyết các vấn đề khoa học và kỹ thuật trong lĩnh vực cấp thoát nước và môi trường cụ .
Ngoài việc nâng cấp, cập nhật thông tin khoa học kỹ thuật vào nội dung giảng dạy, gíáo trình, tài liệu...các trường đại học cũng cần thiết phải cải tiến phương pháp đào tạo: từ đào tạo thụ động chuyển sang đào tạo chủ động , đào tạo theo module, tăng cường công tác thực hành , tham quan thực tế... Do đặc điểm đào tạo ngành kỹ thuật, năng lực thực hành của học sinh được củng cố và nâng cao qua hoạt động tại phòng thí nghiệm. Các phòng thí nghiệm phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy các môn học về cấp thoát nước, kỹ thuật môi trường cần phải được tăng cường.

Hình 3. Một số hình ảnh hoạt động đào tạo tại bộ môn Cấp thoát nước ĐHXD
4. Kết luận
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt nam , đào tạo kỹ sư cấp thoát nước và công nghệ môi trường đã hình thành từ nhiều nguồn gốc, xuất xứ khác nhau và trở thành một chuyên ngành chính thống, đang dần dần thành hệ thống. Nội dung đào tạo rất đa dạng và phong phú.
Đào tạo kỹ sư cấp thoát nước và kỹ thuật môi trường ở Việt nam có từ những năm 60, tuy nhiên sự hình thành hệ thống các cơ sở đào tạo kỹ sư kỹ thuật môi trường chỉ vào cuối những năm 90, khi Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên nước ra đời. Nhu cầu nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá Đất nước rất lớn nhưng hệ thống các cơ sở đào tạo này chưa thể đáp ứng đủ số lượng cũng như chất lượng đào tạo kỹ sư cấp thoát nước và môi trường. Mặt khác để có khả năng hội nhập, chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo đại học cần phải cải tiến và nâng cao. Những thách thức này đòi hỏi có sự đầu tư lớn về cơ sở vật chất giảng dạy, thí nghiệm thực hành, cải tiến chương trình đào tạo phù hợp, thay đổi phương pháp đào tạo thụ động sang chủ động...
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1.Phạm Ngọc Đăng. Nâng cao chất lượng và tính phù hợp trong đào tạo kỹ sư môi trường ở Nước ta, trang 30-34, Tạp chí Bảo vệ môi trường, số 9-2002.
2.Trần Hiếu Nhuệ. Đào tạo kỹ sư môi trường ở các nước và xu hướng của Việt nam, trang 33 –35, Tạp chí Cấp thoát nước, số 1-2001.
3.Trần Đức Hạ. Các giải pháp quản lý đào tạo trong hệ thống các trường đại học để tăng cường nguồn nhân lực cho lĩnh vực cấp thoát nước- môi trường nước, trang 16-18, Tạp chí Cấp thoát nước, số 3-1999.
4.Ưng Quốc Dũng, Trần Hữu Uyển, Trần Đức Hạ. 35 năm hoạt động và phát triển của bộ môn Cấp thoát nước ĐHXD. Trang 3-5, Tạp chí Cấp thoát nước, số 4-2001.
5.WFEO, UNEP, WBCSD, ENPC. Final Report of Joint Conference on “ Engineering Education and Training for Sustainable Development “. Paris, France, 24-26 September 1997.